Những mảnh đời góa bụa bên đồi chè Trung Mang
>> Thứ Sáu, 21 tháng 10, 2011
Câu chuyện về những người đàn bà một đời gắn bó với đồi chè của nông trường Quyết Thắng đã thực sự được viết nên thành câu chuyện cổ tích giữa đời thường về sự hy sinh thầm lặng.
Tuổi xuân bên đồi chè sơn cước
Đã 36 năm nay nhưng bà Lữ Thị Hiến, một công nhân của Nông trường Quyết Thắng, xã Ba, huyện Đông Giang, Quảng Nam vẫn gắn bó với vườn chè ở nơi “thâm sơn cùng cốc” này. Với bà, nghề làm chè đã trở thành “cái nghiệp”, bởi chính cái nghiệp đó đã giúp bà tìm được hạnh phúc cho riêng mình.
Bà Hiến kể lại, năm 1976, cùng với nhiều thanh niên khác bà đã đăng ký tình nguyện lên nông trường làm công nhân đồi chè. Hồi đó, hầu hết thanh niên như bà ở quê đều đăng ký xung phong đi làm kinh tế mới ở các vùng Tây Nguyên, nơi hứa hẹn những cuộc sống mới còn đầy gian nan, thử thách. “Lúc tụi tôi mới lên, trên ni (này) còn hoang vu lắm, không đông đúc như bây giờ đâu. Toàn rừng là rừng, mấy chục người đi cắt tranh, chặt nứa dựng nhà. Ăn thì toàn sắn, bo bo, lâu lâu mới có bữa cơm. Mấy cái đồi chè bây giờ, ngó thấp vậy chớ mấy chục tuổi hết rồi!”, bà Hiến nhớ lại.
Đã hơn 30 năm nay, bà Lữ Thị Hiến vẫn gắn bó với đồi chè |
Cũng như bà Hiến, bà Lê Thị Túc, ở đội 7 xung phong lên đồi chè khi vừa tròn 20 tuổi. Bà bảo, ngày ấy khi biết bà đăng ký lên vùng cao, những người thân trong gia đình đều một mực ngăn cản. Thuyết phục mãi không được, bà đành chấp nhận làm liều trong cuộc chia ly thấm đẫm nước mắt. Ngày rời quê hương để lên vùng đất mới, Đông Giang ngày ấy với họ thật quá xa lạ với những thông tin mịt mù, đầy gian khó.
“Ngày đó, gia đình ai cũng lo khi hay tin tôi đăng ký lên vùng cao lập nghiệp. Họ bảo, nghe đồn rằng khi đã lên trên đó rồi thì sẽ “không còn đường về” bởi câu chuyện về bùa ngải của người vùng cao cứ ám ảnh trong tâm trí họ”, bà Túc kể lại.
Với họ, nghề hái chè là một niềm hạnh phúc lớn lao |
Cứ thế, cuộc hành trình xa quê để tìm miền đất mới lập nghiệp của những người con gái miền xuôi với bao gian truân, khó nhọc. Đêm đến, bên ánh lửa hồng, họ lại ngồi bên nhau hàn huyên để tạm vơi đi nỗi nhớ nhà, quê hương. Bây giờ, nhìn lại cuộc hành trình đầy nước mắt ngày nào, những người phụ nữ miền xuôi ngày ấy vẫn chưa hết nỗi ám ảnh với những tiếng côn trùng mỗi đêm giữa rừng thiêng, nước độc.
“Bây giờ nếu có đánh đổi bằng cái gì quý giá nhất trên cõi đời này, chúng tôi sẽ không bao giờ rời bỏ đồi chè, nông trường này đâu. Bởi tất cả chúng tôi như đều được sinh ra từ mảnh đất thiêng liêng này với bao kỷ niệm đẹp và cao quý nhất”, bà Hiến chia sẻ.
Ngày qua ngày, những phụ nữ bên đồi chè Trung Mang vẫn cần mẫn với ngón nghề mà mình đã chọn |
Công việc hằng ngày của những phụ nữ nông trường khá bộn bề với tá “chế độ” mỗi người. Từ việc buổi sáng đi cuốc cỏ, bón phân, hái chè; tối về tranh thủ chăm lo cho gia đình. Có lẽ, cũng vì tính chất công việc mà bây người số người bám trụ lại với đồi chè như họ không phải là nhiều.
Lâu dần người thì bỏ về quê, người nghỉ công nhân, chuyển sang chạy chợ, bán buôn... Nhưng có một điều là cái số “không chồng” từ những năm tháng đi xung phong làm kinh tế mới thì cứ mãi vận theo họ. Hiếm lắm mới có gia đình như bà Hiến còn bám trụ với nông trường đến ngày nay. Những người đàn bà còn ở lại, nay trở thành hàng xóm, nương tựa vào nhau những lúc khó khăn. Mọi hi vọng, họ dồn hết vào những đứa con bé nhỏ như để tìm lại hạnh phúc của riêng mình.
Và những câu chuyện viết nên cổ tích
Bà Hiến im lặng khi nghe chúng tôi hỏi về cuộc đời góa bụa với một đứa con trai duy nhất của bà. Cái thở dài rất sâu của người đàn bà như nén lại cả một quãng đời buồn tủi.
Nông trường Quyết Thắng được thành lập từ năm 1971, với tên khai sinh là Ban sản xuất Quảng Đà. Ngày đó, cán bộ, công nhân viên (CB-CNV) nông trường phải vừa sản xuất, vừa phục vụ chiến đấu; đã từng tham gia nhiều chiến dịch như: giải phóng Thượng Đức, giải phóng Đại Lộc, đánh sân bay Đà Nẵng…, với các nhiệm vụ vận chuyển lương thực, đạn dược, áp giải tù binh,… Năm 1976, Ban sản xuất Quảng Đà được đổi tên thành Nông trường Quyết Thắng, được giao nhiệm vụ sản xuất trên diện tích 2.100ha, với khoảng 800 CB-CNV. Lúc đầu là khai phá đất hoang, trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả như: dứa, cam, mít, mía,… kết hợp với chăn nuôi trâu, bò, dê,… Từ năm 1977, nông trường chính thức chuyển sang phát triển mạnh cây chè. |
“Cái phận làm công nhân đồi chè nó vậy rồi. Lúc đương thời con gái xuân thì lên nông trường làm công nhân, đến khi nhìn lại thì đã quá lứa lỡ thì. Thôi, đành ngậm ngùi đi tìm một mụn con để phòng mai sau già yếu còn có người chăm sóc”, bà Hiến lặng đi, cố giấu đôi mắt đang rưng rưng ngấn lệ.
Cứ thế, những đứa con chào đời trong những túp lều lụp xụp trong tình thương vô bờ bến của những người mẹ. Cuộc sống khó khăn nhưng họ chưa bao giờ than thân trách về số phận của mình, bởi đơn giản tình yêu lớn nhất của họ đã gắn kết với đồi chè, nay lại được nhìn những đứa con khôn lớn từng ngày trên đồi chè mà các bà đã dày công vun đắp.
Thôn 2, xã Ba có 64 hộ dân thì đã có 11 hộ gia đình “không nóc”. 11 mảnh đời ấy là 11 mảnh ghép nhỏ trong câu chuyện dài của hơn ba mươi năm về trước, của những người đàn bà chung một số phận, chung một nỗi buồn. Ấy thế mà cái xóm nhỏ yên bình này cũng thi thoảng được gọi là “xóm không chồng”. Hơn 30 năm nay, ở xã Ba bây giờ có tận bốn “xóm không chồng” như thế.
Đến thôn 6 (xã Ba) hỏi thăm nhà cô Thúy ai cũng biết. Nhưng ít ai ngờ, căn nhà “hoành tráng” nhất thôn lại do một tay người đàn bà gây dựng. Càng ngạc nhiên hơn khi 3 đứa con gái của bà đều học giỏi “có tiếng” ở vùng. Chỉ khi được nghe bà kể, mới hiểu hết nghị lực phi thường của người đàn bà góa bụa từng là công nhân nông trường chè ngày xưa.
Đơn bóng trên con đường về nhà |
Câu chuyện của bà Thúy, cũng như một “môtip” chung của rất nhiều nữ công nhân Nông trường chè ngày xưa. Xung phong đăng kí lên nông trường, rồi sống cùng những đồi dứa, đồi chè, với thiếu đói, với khổ cực, với rừng thiêng nước độc. Đến khi ngoảnh nhìn lại thì đã quá lứa lỡ thì, đành chấp nhận kiếm lấy mụn con mà chăm sóc. Thế nhưng hành trình “vượt cạn” sinh con, rồi những năm tháng một thân một mình nuôi con khôn lớn, với mỗi người là cả một câu chuyện dài.
“Cô có ba đứa con gái, toàn lớn lên nhờ nước gạo, cháo muối. Đến cái tã cũng phải cắt từ quần áo cũ, vậy mà cũng qua hết. Hồi đó khổ lắm, ăn cơm còn phải độn sắn, có muốn cũng không đủ điều kiện mà cho con cái này, cái kia. Đến khi tụi nhỏ đi học, còn cực gấp mười lần. Con họ thì có cặp sách, có xe đạp, có tiền ăn sáng. Con cô thì cứ tay ôm vở, đi bộ gần 5 cây số tới trường mà năm này tháng khác chỉ có cơm chiên. Được cái mấy đứa nó học giỏi lắm, không có năm nào phải mua vở cho vì đã có phần thưởng từ nhà trường rồi!”, bà Thúy cười, tự hào kể lại.
Vất vả, cực nhọc chăm sóc cho con, rồi chuyện nhà cửa, vườn tược, một tay những người đàn bà gầy dựng. Nhưng, cay đắng nhất vẫn là những tháng năm cắn răng chịu đựng tiếng đời. “Không chồng mà chửa”, miệng đời oan nghiệt vẫn nhằm vào những người đàn bà mỗi khi có chút xích mích nhỏ với hàng xóm, hay những đứa trẻ “con bà giá” lớn lên trong sự trêu chọc, xa lánh của những đứa trẻ khác ở trường.
Bình yên đồi chè Trung Mang |
“Răng mấy bạn khác có ba mà con không có hở mẹ?”, câu hỏi ngây ngô của những đứa trẻ như nhát dao cắt ruột. Vậy mà, sau ba mươi năm, trong tay người đàn bà góa là một căn nhà hai tầng khang trang, một khối tài sản đủ đầy và 3 đứa con. Bây giờ đứa đầu con bà đã tốt nghiệp trường Cao đẳng Y tế Quảng Nam, có việc làm ổn định; đứa thứ 2 đang theo học tại Đại học Duy Tân – Đà Nẵng; còn con út thì vừa trải qua kỳ thi tuyển sinh Đại học vừa rồi. Nói về con, bà Thúy tự hào: “Nhà chỉ có ba mẹ con, khổ cực chi cũng trải qua hết. Ba đứa con là gia tài lớn nhất của tui. Đứa nào cũng học giỏi, hồi còn đi học thì được giải này giải kia, nhiều lắm!”.
Cũng như bà Thúy, niềm an ủi lớn nhất của những bà góa trên nông trường heo hút này là những đứa con. Dù vất vả, cực nhọc, nhưng hầu hết những đứa trẻ đều được mẹ cố gắng chăm lo cho đi học đến nơi đến chốn. Như bà Túc, có 2 đứa con gái đều được đi học đầy đủ; bà Hiến có một đứa con trai duy nhất cũng đang theo học tại trường Cao đẳng Điện lực Hội An (Quảng Nam).
Nhìn lại quãng đời đã qua, ngay cả bà Thúy cũng cảm thấy ngỡ ngàng, một niềm hạnh phúc đang trỗi dậy trên gương mặt của những bà mẹ góa bụa trên nông trường chè Quyết Thắng…
Hoàng Tỷ Nguyên
Theo Bưu Điện Việt Nam
0 nhận xét:
Đăng nhận xét